Bệnh ung thư đại tràng: Nguyên nhân và phương pháp điều trị

Lượt xem : 29

Trong các bệnh lý liên quan đến đại tràng, ung thư đại tràng là căn bệnh nguy hiểm nhất và có tỷ lệ tử vong cao. Việc phát hiện sớm dấu hiệu của bệnh sẽ giúp cho mọi người có biện pháp phòng tránh và ngăn chặn kịp thời, dưới đây là bài viết chia sẻ về bệnh ung thư đại tràng, mời bạn đọc cùng tham khảo:

 

Ung thư đại tràng là gì?

Ung thư đại tràng hay còn gọi là ung thư ruột già là một bệnh lý phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Tây Âu. Trong các bệnh lý ác tính thường gặp, ung thư đại tràng đứng hàng thứ 4 đối với cả nam và nữ với khoảng 1 triệu người được phát hiện hàng năm, và đứng hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong vì ung thư cho khoảng 630.000 người tử vong mỗi năm.

Ở Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng 100.000 đến 150.000 trường hợp được phát hiện và từ 50.000 đến 70.000 người tử vong vì bệnh ung thư, trong đó ung thư đại tràng là bệnh thường gặp đứng hàng thứ ba trong ung thư đường tiêu hóa.

Ung thư đại tràng là một trong những loại ung thư đường tiêu hóa có tiên lượng tốt trong trường hợp phát hiện khi bệnh còn ở giai đoạn sớm hoặc các tổn thương tiền ung thư. Nếu phát hiện muộn thì khả năng điều trị rất ít hiệu quả.

 

Nguyên nhân của bệnh ung thư đại tràng

Nguyên nhân của ung thư đại tràng cho đến nay vẫn chưa xác định chắc chắn, nhưng có một số yếu tố nguy cơ đã được thừa nhận sau:

 

Yếu tố di truyền:

  • Bệnh polyp đại tràng gia đình (FAP - Familial Adenomatous Polyposis) gồm hàng trăm đến hàng nghìn polyp nằm ở đại trực tràng, nguy cơ ung thư hóa tới 100%.
  • Bệnh polyp đại tràng phối hợp với u xơ mạc treo, u sau phúc mạc (hội chứng Gardner) hoặc phối hợp với khối u ở hệ thống thần kinh trung ương (hội chứng Turcot).
  • Hội chứng ung thư đại tràng không có polyp (HNPCC - Hereditary Nonpolypsis Colorectal Caner) còn gọi là hội chứng ung thư gia đình hay hội chứng Lynch. Trong đó hội chứng Lynch I chỉ có ung thư đại trực tràng, hội chứng Lynch II ung thư đại trực tràng kết hợp với các ung thư khác.

 

Các tổn thương tiền ung thư:

  • Polyp đại tràng: nguy cơ ung thư hóa tăng lên theo kích thước, số lượng và thể loại polyp.
  • Bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu: có nguy cơ xuất hiện ung thư sau 10 - 20 năm, thường gặp ung thư đại tràng ở nhiều vị trí.
  • Bệnh Crohn’s: có nguy cơ ung thư hóa thấp hơn, ít gặp ở người Việt Nam.

 

Các yếu tố khác:

 

  • Chế độ ăn: chế độ ăn nhiều mỡ động vật và thịt, ít chất xơ làm tăng nguy cơ ung thư  đại tràng do tạo nhiều acid mật trong phân và bị phân hủy thành chất độc hại cho niêm mạc đại tràng.
  • Các bức xạ ion hóa.
  • Ngoài ra còn một số yếu tố khác như: hút thuốc lá, kém vận động thể chất, vai trò của vi khuẩn kỵ khí đường ruột, phẫu thuật cắt túi mật...

 

Triệu chứng của bệnh ung thư đại tràng

 

Đau bụng:

  • Đau bụng là một trong  những triệu chứng sớm nhất và có ở 70 - 80% bệnh nhân ung thư đại tràng.
  • Hoàn cảnh xuất hiện cơn đau không theo một quy luật nào: có thể đau bất kỳ lúc nào trong ngày, không liên quan đến bữa ăn, vị trí đau thường ở vùng bị ung thư. Cơn đau có thể dài hay ngắn, từ vài phút đến vài giờ. Cường độ đau lúc đầu thì ít, về sau đau nhiều.
  • Ung thư ở đại tràng phải đến muộn thường có triệu chứng bán tắc ruột: người bệnh đau bụng từng cơn, đôi khi thấy sôi bụng, sau khi trung tiện được thì hết đau (hội chứng Koenig).
  • Ung thư ở đại tràng trái thường đau dữ dội khi có biến chứng tắc ruột.

Rối loạn đại tiện: là triệu chứng rất thường gặp trong ung thư đại tràng, có thể là phân lỏng, táo bón hoặc vừa táo bón vừa lỏng. Trong ung thư đại tràng phải thường gặp tình trạng phân lỏng nhiều hơn. Đây là dấu hiệu gợi ý nếu mới xuất hiện và kéo dài ở bệnh nhân trên 40 tuổi.

Táo bón là do ung thư làm hẹp lòng ruột, cản trở lưu thông của phân, gây ứ đọng phân. Hiện tượng ứ đọng phân làm tăng quá trình thối rữa và lên men, sinh nhiều hơi, làm bụng chướng đồng thời cũng tăng bài tiết chất nhầy ở ruột, những chất nhầy này sẽ làm tiêu lỏng với phân lẫn chất nhầy và đôi khi có máu.

 

Phân lẫn máu:

  • Người bệnh đi tiêu, phân thường có máu do chảy máu ở vị trí ung thư (bên phải bị nhiều hơn bên trái).
  • Xuất huyết ở đại tràng phải phân thường có màu đỏ sẫm, xuất huyết ở đại tràng trái phân có màu đỏ tươi hơn. Phân lẫn máu thường có ít chất nhầy của niêm mạc ruột.
  • Hiện tượng xuất huyết thường rỉ rả, từng ít một nên lúc đầu không làm ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Sau đó do mất máu kéo dài nên làm người bệnh thiếu máu.

 

Gầy sút cân: có thể xuống cân từ từ không làm bệnh nhân chú ý, nhưng cũng có thể gầy sút nhanh (4-5 kg/tháng).

 

Thiếu máu: thường là thiếu máu mãn tính. diễn ra từ từ, âm thầm nhiều khi rất khó xác định trên lâm sàng.

 

Sốt: khoảng 16%- 18% bệnh nhân ung thư đại tràng có triệu chứng duy nhất là sốt.

 

Sờ thấy u: các khối u đại tràng phải dễ sờ thấy hơn đại tràng trái, khối u thường có tính chất chắc, ranh giới rõ, bờ không đều, di động hoặc ít di động. Khi sờ thấy u thì thường dễ chuẩn đoán, nhưng bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn.

 

Phát hiện và chuẩn đoán bệnh ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng giai đoạn sớm thường không có triệu chứng mặt khác nhiều triệu chứng của ung thư đại tràng lại không đặc hiệu nên ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Thụy Điển người ta tiến hành các chương trình sàng lọc cộng đồng sử dụng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân nhằm tìm kiếm ung thư đại tràng giai đoạn sớm, từ đó nâng cao chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ tử vong. Ngày nay sự hiểu biết về các triệu chứng lâm sàng cùng với sự hỗ trợ của nội soi ống mềm có sinh thiết, X-quang đại tràng, xét nghiệm CEA, CT-Scan, MRI, xét nghiệm gen làm cho chuẩn đoán có nhiều tiến bộ. Vì vậy, việc điều trị được thực hiện kịp thời hơn, làm gia tăng đáng kể thời gian sống thêm sau mổ.

Phương pháp thăm khám lâm sàng và sàng lọc những người có nguy cơ mắc bệnh cao

Do ung thư đại tràng tiến triển chậm và thường di căn muộn hơn so với các loại ung thư khác và có nhiều triệu chứng không đặc hiệu. Việc chuẩn đoán sàng lọc tập trung, vào ba nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao.

  • Những người trên 40 tuổi
  • Những người có rối loạn tiêu hóa kéo dài thường được chuẩn đoán là viêm đại tràng mãn tính, bệnh đại tràng cơ năng sau lỵ amip mãn tính, hội chứng lỵ.
  • Những người có bệnh polyp đại tràng, những người trong gia đình có người mắc bệnh ung thư đại tràng. Từ đó hướng tới các xét nghiệm chuẩn đoán bệnh ung thư đại tràng.

Chụp cản quang đại tràng

Có 2 phương pháp thường dùng để chuẩn đoán:

  • Chụp khung đại tràng cản quang bằng thuốc barit: giúp đánh giá sự vận động của đại tràng, phát hiện những trường hợp u xâm lấn.
  • Chụp đối quang kép: sau khi thụt barit vào khung đại tràng để bệnh nhân đi ngoài, tiếp đó bơm hơi vào đại tràng để chụp, với phương pháp này cho phép nhanh chóng đánh giá tình trạng niêm mạc không bình thường do loét lõm, polyp đường kính nhỏ tới 0,5cm.

 Các hình ảnh tổn thương có thể gặp:

  • Hình khuyết, hình nham nhở khi khối u chưa phát triển hết chu vi.
  • Hình hẹp và cứng một đoạn.
  • Hình móc
  • Hình tắc: do u lấp kín đường ruột nên thuốc không qua được
  • Đường rò sang cơ quan lân cận

Phương pháp thăm dò bằng nội soi

Đây là phương pháp tốt nhất để đánh giá tình trạng niêm mạc đại tràng. Đặc biệt nội soi ống mềm cho phép quan sát các tổn thương từ hậu môn đến manh tràng. Nội soi ống cứng có khả năng soi được 20-25cm cuối cùng của ống tiêu hóa, phát hiện các tổn thương, sinh thiết, cắt polyp ở ống hậu môn, trực tràng và một phần đại tràng Xích ma. Đây là kỹ thuật rẻ tiền, dễ thực hiện và rất hiệu quả.

Ưu điểm của ống soi mềm vừa ít gây khó chịu cho người bệnh vừa quan sát trực tiếp bề mặt niêm mạc gấp 2-3 lần, phát hiện tổn thương gấp 2-3 lần so với nội soi ống cứng. Nội soi phát hiện được sớm những ung thư nhỏ, những u tuyến và polyp có những ung thư tiềm ẩn qua đó sinh thiết phát hiện tính chất của tổn thương và lấy đi kịp thời những tổn thương đó.

Nhờ nội soi và thủ thuật nhuộm màu niêm mạc nên ung thư sớm típ phẳng và típ lõm được quan sát rõ hơn và phát hiện sớm hơn.

Bên cạnh những phương pháp trên còn có những phương pháp hiện đại khác:

  • Siêu âm: là phương pháp đơn giản không gây nguy hiểm, siêu âm được sử dụng do có giá trị gợi ý chuẩn đoán, trên siêu âm hình ảnh tăng âm ở thành ruột bao quanh ổ giảm âm gợi ý một khối u ống tiêu hóa. Ngoài ra siêu âm còn giúp phát hiện tổn thương di căn ở gan, thận, lách hay tình trạng dịch cổ trướng trong ổ bụng.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ hại nhân (MRI) là những phương pháp chuẩn đoán có độ chính xác cao cho phép xác định vị trí khối u, đánh giá độ xâm lấn của khối u, cũng như tình trạng di căn hạch.

Phương pháp sinh học

  • Xét nghiệm máu ẩn trong phân (FOBT): máu trong phân có thể do nhiều nguyên nhân như polyp, ung thư, viêm loét đại trực tràng, trĩ… Vì vậy, nếu xét nghiệm dương tính cần nội soi đại trực tràng bằng ống mềm để kiểm tra.

 

Phương pháp điều trị ung thư đại tràng

Phương pháp điều trị ung thư đại tràng được quyết định dựa trên giai đoạn của ung thư đại tràng

  • Giai đoạn I đến IIIa: thông thường có thể được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ khối u
  • Giai đoạn IIIb hoặc IIIc: hóa trị kèm theo phẫu thuật để ngăn ngừa các tế bào ung thư tấn công các cơ quan khác của cơ thể
  • Giai đoạn IV: hóa trị là phương pháp hiệu quả để điều trị ung thư

Phẫu thuật:

  • Phẫu thuật dự phòng bệnh: phẫu thuật cắt bỏ những thương tổn tiền ung thư góp phần tích cực làm hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh
  • Phẫu thuật điều trị ung thư: có hai loại chỉ định chính là phẫu thuật triệt để và tạm thời. Việc áp dụng chỉ định nào hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn bệnh

Xạ trị:

Xạ trị có thể chữa khỏi bệnh, giúp kéo dài thời gian và điều trị triệu chứng bệnh ung thư.

Hóa trị:

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư.

Trên đây là những thông tin cung cấp tới cho bạn đọc về nguyên nhân, triệu chứng, cách chuẩn đoán cũng như phương pháp điều trị bệnh ung thư đại tràng. Để phòng tránh bệnh, mọi người cần xây dựng cho mình một chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học, hy vọng rằng bài viết trên sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về bệnh ung thư đại tràng.

 

Gửi câu hỏi