Tìm hiểu về các u lành tính đại tràng

Lượt xem : 13

u lành tính đại tràng

 

 

Trong những năm gần đây, do sự phát triển của kỹ thuật nội soi, khối u lành tính của đại tràng ngày càng được phát hiện nhiều. Có hai loại:

  • U ở niêm mạc: thường gặp nhất là u tuyến, chiếm đại đa số trong các loại u lành tính của đại tràng.

  • U ở thành đại tràng: hiếm gặp hơn nhiều, u xuất phát từ tổ chức liên kết, thường gặp là u mỡ, u xơ, u cơ, u máu, u mạch máu.

 

Dưới đây là một số bệnh u lành tính đại tràng, mời bạn đọc cùng tham khảo:

 

Polyp đại tràng

 

Polyp đại tràng là bệnh lý hay gặp của đại tràng: tỷ lệ phát hiện polyp đại tràng trong mổ tử thi là 7-31%, trong nội soi là 28,2-33,1%. Tại Việt Nam, theo một số nghiên cứu thì tỷ lệ polyp đại tràng trong dân chúng phát hiện bằng nội soi ở Thanh Hóa là 12,1%, ở Bình Trị Thiên là 21% và ở Hà Nội là 5%.

 

Giải phẫu bệnh lý

 

Vị trí: càng ở cuối ống tiêu hóa càng gặp nhiều. Nhiều nhất ở trực tràng và đại tràng Sigma (70-90%). Polyp có thể tập trung tại một đoạn hoặc có thể rải rác khắp đại tràng.

 

Số lượng: thường là một (70%), nhưng có thể là 2-3 cái hoặc hàng chục cái

 

Hình dạng: thường là hình tròn hay bầu dục có đường kính từ 1mm đến vài cm. Có thể có cuống dài rất di động nhưng có thể không có cuống. Thường có màu đỏ tươi. Về vi thể, polyp được hình thành từ niêm mạc đại tràng bao gồm một phần tuyến xuất phát từ biểu mô, một phần nối tiếp mạch máu chuyển từ màng đệm dưới niêm mạc. Lớp cơ không bao giờ thâm nhập vào sự hình thành của tổ chức u ngay cả ở cuống cũng vậy.

 

Lâm sàng

 

Biểu hiện lâm sàng của polyp đại tràng rất khác nhau. Phần lớn không có triệu chứng.

 

Triệu chứng lâm sàng của polyp phụ thuộc số lượng, vị trí, kích thước và cấu tạo đại thể.

 

Các triệu chứng thường gặp là:

 

  • Chảy máu: thường chảy máu đỏ tươi kèm theo phân có khi chảy máu đơn thuần hoặc chảy máu ít một, kéo dài gây thiếu máu. Một đặc điểm nữa là chảy máu từng đợt có thời kỳ dài yên tĩnh.

  • Rối loạn tiêu hóa, biểu hiện bằng tiêu chảy hoặc táo bón.

  • Đau bụng

  • Các triệu chứng đặc biệt khác: có thể bắt đầu bằng triệu chứng của lồng ruột. Nếu polyp ở trực tràng có cuống dài thì có thể sa ra ngoài khi đi ngoài.

Chẩn đoán

 

Chẩn đoán polyp đại tràng dựa vào

 

  • Lâm sàng: triệu chứng chủ yếu là đi ngoài ra máu.

  • Soi đại trực tràng: thấy polyp trong lòng đại tràng hoặc trực tràng, di động và lẩn tránh trước ống soi.

  • Chụp khung đại tràng cản quang: phải có kỹ thuật hoàn hảo.

  • Chụp nghiêng có ép, dùng thuốc làm thay đổi nhu động. Chụp khi thuốc đầy, thuốc ít và sau khi bơm hơi.

Hình ảnh polyp là một vệt sáng, bờ rõ, trong đều, rất di động thay đổi qua các lầm khám và cùng một lần khám ở các thời điểm khác nhau.

 

Tiến triển và biến chứng

 

  • Ung thư hóa

 

Số lượng polyp càng nhiều thì tỷ lệ ung thư hóa càng cao. 

 

Nếu số lượng là hai u thì ung thư tại chỗ là 21,3%, ung thư xâm lấn là 16%.

 

  • Chảy máu. Có thể chảy ít một kéo dài gây thiếu máu hoặc chảy nhiều máu gây mất máu cấp.

  • Biến chứng tắc ruột do polyp bít lòng ruột hoặc lồng ruột.

 

Điều trị

 

Chỉ có thể bằng phẫu thuật. Tùy theo vị trí, tính chất, số lượng và sự phân bố mà người ta có thể:

  • Cắt bỏ polyp bằng nội soi hoặc phẫu thuật

  • Cắt đoạn đại tràng cùng polyp 

  • Cắt bỏ toàn bộ đại tràng

 

U mỡ

 

u lành tính đại tràng

 

 

Là bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng 1-10% trong tổng số u lành tính của đại tràng.

 

Giải phẫu bệnh lý

 

U thường phát triển ở lớp dưới niêm mạc (bên trong), hiếm hơn là phát triển ở lớp dưới thanh mạc.

 

 U thường có chân rộng, đôi khi cũng có cuống và gọi nó là u mỡ dạng polyp. Kích thước của nó có thể nhỏ như hạt đỗ hoặc to bằng quả cam. Phần lớn gặp ở người trên 40 tuổi. Niêm mạc phủ trên khối u thường bình thường và không có nếp gấp.

 

U được cấu tạo gồm những miếng mỡ có kích thước khác nhau và được ngăn cách bằng vách xơ. Nếu ở trong u mỡ có nhiều tổ chức liên kết thì được gọi là u xơ mỡ.

 

Lâm sàng

 

Bệnh tiến triển chậm, thường không có triệu chứng. Giai đoạn sau xuất hiện táo bón, tiêu chảy thất thường, đôi khi có máu và dịch nhày. Nếu u to, có thể sờ thấy u với tính chất di động, mặt nhẵn.

 

Đôi khi bắt đầu bằng triệu chứng lồng ruột cấp hoặc mạn.

 

Chẩn đoán

 

Chẩn đoán xác định u mỡ đại tràng trước mổ rất khó. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào X-quang: một hình khuyết thuốc của rượu. Tuy vậy cũng có thể nhầm với một ung thư.

 

Tiến triển và biến chứng

 

Dể đưa đến lồng ruột. Cũng có thể ung thư hóa dưới thể sarcoma (ít gặp).

 

Điều trị

 

Cắt đoạn đại tràng với khối u

 

U xơ

 

U xơ đại tràng rất hiếm gặp

 

U phát triển thường không có triệu chứng. Đôi khi bắt đầu bằng triệu chứng của lồng ruột. Tiến triển có thể bị loét về phía phúc mạc hay và ở niêm mạc hoặc ung thư hóa.

 

U cơ

 

Thường phát triển từ lớp cơ ở trong nhiều hơn ở lớp cơ ngoài. Mặt của khối u thì nhẵn. U có thể phát triển làm hẹp lòng ruột và là dấu hiệu đầu tiên để chẩn đoán. Khối u có thể gây lổng ruột, loét chảy máu hoặc ung thư hóa.

 

U mạch máu

 

Rất hiếm gặp, triệu chứng thường gặp nhất là chảy máu. Có thể chảy máu thường xuyên từng đợt, đôi khi chảy máu dữ dội trong khi đại tiện. Khi soi trực tràng, đại tràng thấy những búi mạch máu hình chùm nho nhô lên từ lớp dưới niêm mạc. Chẩn đoán u máu đại tràng trước khi mổ rất hiếm.

 

Các u lành tính khác

 

Có thể gặp nhưng rất hiếm các u lành tính khác của đại tràng như u bạch huyết, u xơ thần kinh. Các khối u này phát triển không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nghèo nàn nên khó chẩn đoán được trước khi mổ. Khi chẩn đoán được đều có chỉ định ngoại khoa là cắt bỏ khối u.

 

Trên đây là một số bệnh liên quan đến u lành tính đại tràng, việc nắm bắt được từng đặc điểm của bệnh sẽ giúp cho người bệnh có phương pháp ngăn chặn và điều trị kịp thời, hy vọng bài viết cung cấp được những thông tin hữu ích đến cho người bệnh.

Gửi câu hỏi