Tìm hiểu về vết thương đại tràng

Lượt xem : 14

vết thương đại tràng

 

Nói về các bệnh lý liên quan đến đại tràng, chúng ta không thể bỏ qua một căn bệnh có tên vết thương đại tràng. Vậy vết thương đại tràng là gì? bệnh được chẩn đoán như thế nào? mời các bạn cùng đọc bài viết dưới đây để hiểu thêm nhé!

 

Vết thương đại tràng là gì?

 

Vết thương đại tràng thường là một bệnh cảnh tổn thương phối hợp với các tạng khác trong ổ bụng hoặc đơn thuần trong chấn thương bụng kín hoặc vết thương thấu bụng:

 

Chấn thương bụng kín:

 

Chấn thương bụng kín thường gặp trong thời bình. Tai nạn giao thông chiếm 50-75, Các nguyên nhân khác bao gồm: rơi từ trên cao, tai nạn trong sinh hoạt. Tạng thường bị tổn thương, theo thứ tự, lá lách, gan, sau phúc mạc, ruột non, thận, bàng quang, ruột già, cơ hoành, tụy.

 

Cơ chế tổn thương:

 

  • Sự giảm tốc đột ngột: làm các tạng khác nhau di chuyển với tốc độ khác nhau. Tổn thương thường là rách do bị chằng kéo, đặc biệt tại nơi tiếp giáp với các vị trí cố định.

  • Sự đè nghiến: các tạng bị ép giữa thành bụng và cột sống hay thành ngực sau. Tạng đặc (gan, lách, thận) thường  bị tổn thương nhiều hơn cả.

  • Sự tăng áp lực trong xoang bụng đột ngột: gây vỡ các tạng rỗng 

 

Chẩn đoán chấn thương bụng kín thường khó khăn vì:

 

  • Bị các tổn thương phối hợp đánh lạc hướng.

 

  • Tri giác bệnh nhân suy giảm do chấn thương sọ não, ngộ độc.

  • Gây mê và phẫu thuật ở các vùng khác có thể ảnh hưởng đến việc theo dõi tình trạng bụng ở bệnh nhân bị đa chấn thương.

 

Vết thương thấu bụng

 

Vết thương thấu bụng được định nghĩa là vết thương thành bụng trước xâm nhập vào xoang bụng, vết thương ngực xâm nhập vào xoang bụng, vết thương vùng hông hay lưng xâm nhập vào khoang sau phúc mạc. Vết thương thấu bụng thường gặp trong cả thời bình lẫn thời chiến.

 

Tác nhân gây vết thương thấu bụng:

Thời bình: do các vật sắc nhọn (do bị đâm).

Thời chiến: do hỏa khí.

 

Đối với vết thương thấu bụng do hỏa khí, tổn thương có năng lượng truyền dẫn cao, do đó khó tiên đoán được mức độ tổn thương các tạng trong xoang bụng (không thể dựa vào tổn thương bề mặt để đánh giá tổn thương nội tạng).

 

Đối với vết thương thấu bụng do bị đâm, có thể tiên đoán trước mức độ tổn thương cũng như tạng bị tổn thương.

 

Các tạng thường bị tổn thương: ruột non (29%), gan (28%), ruột già (23%), dạ dày (13%).

 

Phương pháp chẩn đoán vết thương đại tràng

 

Chẩn đoán lâm sàng

 

Các dấu hiệu quan trọng nhất chứng tỏ có tổn thương nội tạng là: đau bụng (đặc biệt đau ngày càng tăng), tụt huyết áp, các dấu hiệu của viêm phúc mạc, tiểu  ra máu, xuất huyết tiêu hóa.

 

Khi thăm khám lâm sàng, cần thăm khám và xử trí theo thứ tự ưu tiên (hô hấp/cột sống cổ - tuần hoàn - thần kinh trung ương - bụng - tứ chi) để tránh bỏ sót các tổn thương.

 

Cần chú ý khai thác:

 

  • Tác nhân gây tổn thương (hình dáng, kích thước)

  • Hướng tác động

  • Lực tác động

 

Tình trạng ban đầu của bệnh nhân (nếu bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốc, có chỉ định mở bụng kiểm tra mà không cần làm thêm các chẩn đoán cận lâm sàng).

 

Chẩn đoán cận lâm sàng

 

Computer Tomography (CT): 

X-quang

Nội soi đại tràng Sigma:

Thăm khám trực tràng

Các xét nghiệm:

  • Công thức máu

  • Glycemia, ure, creatinin huyết tương

  • Thời gian máu chảy, PT, aPTT

  • Nhóm máu

  • Tổng phân tích nước tiểu

  • Test thai

  • Đo nồng độ rượu và các chất khác

 

Xử trí:

 

Trong bệnh cảnh một chấn thương bụng kín hoặc vết thương thấu bụng thì vết thương đại tràng chỉ là một tổn thương đơn thuần hay phối hợp với các tạng khác trong ổ bụng như gan, lách, mạch máu. Can thiệp phẫu thuật ngay nếu bệnh nhân có:

  • Viêm phúc mạc toàn diện

  • Sốc mất máu kèm theo chướng bụng.

  • XQ có dấu hiệu vỡ cơ hoành.

  • Hoặc: nếu có sốc, thông dạ dày có máu, thăm trực tràng có máu, có dấu viêm phúc mạc, FAST (+): can thiệp phẫu thuật.

 

Đánh giá và kiểm soát các tổn thương:

 

Nguyên tắc đánh giá và xử trí tổn thương khi vào xoang bụng.

 

Đè vào động mạch chủ bụng ngay dưới hoành nếu bệnh nhân trụy mạch khi mở bụng.

 

Nhét bốn miếng gạc bụng vào dưới hoành và hai hốc chậu.

 

Nhét gạc ép vào các tạng đặc bị tổn thương.

 

Kiểm tra mạc treo ruột non, kẹp các mạch máu đang chảy.

 

Thám sát gan, lách.

 

Thám sát toàn bộ ống tiêu hóa từ tâm vị đến trực tràn. Kẹp tạm hai đầu đoạn có tổn thương (hay khâu đóng bằng stapler) trước khi tiếp tục thám sát.

 

Mở phúc mạc sau thám sát thận.


 

Vết thương đại tràng: Trong hai thập kỷ qua, người ta luôn đưa ra câu hỏi trong vết thương đại tràng khâu thì đầu hay mở hậu môn nhân tạo nhưng nhờ sự phát triển kỹ thuật chăm sóc và kháng sinh nên xu hướng khâu thì đầu tăng dần vì lợi ích của khâu thì đầu là tránh biến chứng hậu môn như tụt, thoát vị, sa niêm hậu môn nhân tạo. Hơn nữa nếu mở hậu môn nhân tạo (HMNT) sẽ để lại gánh nặng về tài chính trong việc chăm sóc hậu môn cũng như các sang chấn tâm lý mà bệnh nhân phải chịu đựng.

 

Định nghĩa khâu thì đầu: Cắt lọc và đóng kín vết thương đại tràng hoặc cắt bỏ phần đại tràng có vết thương rồi khâu nối. Với kỹ thuật khâu hai lớp với lớp trong bằng chỉ tiêu, lớp ngoài bằng chỉ không tiêu, mũi rời.

Ưu điểm  chính của khâu thì đầu là tránh các biến chứng liên quan đến mở và đóng hậu môn nhân tạo, theo kết quả nghiên cứu của Adedoyin (2004) tỷ lệ khâu thì đầu và hậu môn nhân tạo tương ứng là 45% và 55%.

 

Những lợi ích của khâu thì đầu đã chứng minh rõ ràng với ưu điểm tránh được các biến chứng của hậu môn nhân tạo, tránh phải nhập viện đóng lại hậu môn tạm, tránh các gánh nặng về tâm lý, về tài chính trong việc chăm sóc hậu môn tạm. 

Chỉ định khâu thì đầu ở tất cả các vết thương đại tràng với các yếu tố nguy cơ thấp: Bệnh nhân nhập viện trước 4 giờ, độ nhiễm phân nhẹ hoặc trung bình, không có tình trạng choáng do mất máu. Chỉ định làm hậu môn nhân tạo khi bệnh nhân trong tình trạng sốc, bệnh mãn tính, truyền nhiều máu trong và sau mổ (trên 4 đơn vị máu), ổ bụng nhiễm phân nặng.

 

Quyết định cuối cùng trong việc can thiệp vết thương đại tràng phải dựa trên lý luận khoa học kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng của phẫu thuật viên và tình trạng bệnh nhân. Tuy nhiên khuynh hướng hiện nay là nên khâu thì đầu, tránh làm hậu môn nhân tạo.

 

Trên đây là những thông tin cung cấp tới cho bạn đọc về vết thương đại tràng. Hy vọng bài viết phần nào giải quyết được những thắc mắc của mọi người về bệnh.

Gửi câu hỏi